[ad_1]

Những danh thần danh tướng trong lịch sử đều chỉ vì một việc này mà gây họa cho con cháu
Ảnh: Soundofhope

Trong lịch sử Trung Quốc, có rất nhiều danh tướng vào sinh ra tử, chiến công hiển hách, họ vốn có thể an nhàn tuổi già, hưởng thụ cuộc sống. Tuy nhiên, một số người trong họ lại bị bệnh tật đeo bám khi về già; có người chết không được an lành; có người thì con cháu rất nhanh mà bị diệt hết; thậm chí có người còn bị đọa vào địa ngục chịu đủ đau khổ. Hôm nay chúng ta sẽ nói về những khía cạnh khác của các danh tướng, những điều mà có thể mọi người không muốn biết.

1. Danh tướng Bạch Khởi của nước Tần

Bạch Khởi (năm 332 trước công nguyên? – năm 257 trước công nguyên), nhà quân sự thời Chiến Quốc, danh tướng nước Tần, một nhân vật tiêu biểu của binh gia. Bạch Khởi làm tướng của nước Tần hơn 30 năm, tấn công hơn 70 thành, tiêu diệt gần một triệu quân địch, chưa bại lần nào, được phong làm Vũ An Quân. Bạch Khởi cả đời đã giành thắng lợi huy hoàng trong các trận chiến như Y Khuyết, Yên Dĩnh, Hoa Dương, Hình Thành, Trường Bình. “Thiên văn tự” đã gọi Bạch Khởi, Vương Tiễn, Liêm Pha và Lý Mục là 4 danh tướng thời chiến quốc.

Trong trận Trường Bình, sau khi Tần Chiêu Tương Vương biết được Triệu Quát làm chủ tướng, đã ngầm phái Bạch Khởi thay Vương Hột làm chủ tướng. Khi chủ lực của quân Triệu bị vây khốn, cạn lương thực sau 46 ngày, 40 vạn quân sĩ nước Triệu đã đầu hàng Bạch Khởi. Bạch Khởi cùng thủ hạ và tướng lĩnh hiến kế nói: “Nhân dân nước Triệu thay đổi thất thường, trước khi nước Tần chiếm được Thượng Đảng, dân chúng nơi đó đều chạy về nước Triệu. Nếu không giết hết họ, e rằng lại có rắc rối”.

Bạch Khởi dùng thủ đoạn lừa dối, ra lệnh cho thủ hạ và binh sĩ giết hết quân đầu hàng của nước Triệu, chỉ để lại 240 binh sĩ còn nhỏ tuổi, thả cho trở về nước Triệu báo tin. Trận Trường Bình trước sau giết chết 45 vạn quân Triệu, nước Triệu kinh hãi. Sau trận chiến, quân Tần dọn sạch chiến trường, thu thập đầu lâu, đầu người quá nhiều chất thành đài, gọi là “Bạch Khởi đài”.

Những danh thần danh tướng trong lịch sử đều chỉ vì một việc này mà gây họa cho con cháu
Chân dung Bạch Khởi – Ảnh Soundofhope

Sau trận Trường Bình, bởi vì Bạch Khởi phát sinh mâu thuẫn với Tần Chiêu Tương Vương trong vấn đề tấn công nước Triệu, hơn nữa tin tức bại trận của quân Tần ở tiền phương liên tục gửi đến, Tần Chiêu Tương Vương càng thêm phẫn nộ, vì vậy sai người trục xuất Bạch Khởi. Bạch Khởi đi khỏi cửa Tây, Hàm Dương được mười dặm, đến Đỗ Bưu (nay là đông bắc Hàm Dương, Thiểm Tây). Phạm Thư nói với Tần Chiêu Tương Vương: “Bạch Khởi sau khi bị lưu đày thì không phục mà nói ra lời oán hận”.

Vì vậy Tần Chiêu Tương Vương sai người ban cho Bạch Khởi một thanh kiếm để tự tử. Lúc này Bạch Khởi ngửa mặt lên trời thở dài nói: “Ta rốt cuộc đã mắc sai lầm gì mà lại rơi vào kết cục như thế này?” Một lát sau lại nói: “Ta vốn là đáng chết. Trận Trường Bình quân sĩ nước Triệu đầu hàng đến mấy trăm ngàn người, ta dùng thuật lừa dối mà chôn sống họ, như vậy cũng đã đủ tội chết rồi”. Bạch Khởi sau đó tự sát.

Trong “Pháp uyển châu lâm” có ghi chép: Năm Khai Hoàng thứ 11 triều đại nhà Tùy, quan giúp việc Triệu Văn Xương đột nhiên qua đời, duy chỉ có quả tim vẫn còn hơi ấm. Người nhà không dám đưa vào quan tài, sau đó lại sống lại. Triệu Văn Xương nói: “Lúc tôi trở lại, đi ra cửa Nam, thấy trong một cái hố phân có tóc người lơ lửng ở trên”. Văn Xương hỏi người dẫn đường, người đó đáp: “Đây là Bạch Khởi, đại tướng nước Tần, bị nhốt ở đây, tội ác chưa hết”.

Trong “Cao tăng truyện” có chép: Trong năm Hàm Hanh, lúc pháp sư Đạo Anh triều đại nhà Đường cư ngụ tại chùa Pháp Hải ở Kinh Triệu, trụ trì chùa là pháp sư Tuệ Giản, sáng sớm đã nhìn thấy 2 người đi bộ trên không trung, đột nhiên đi vào chỗ pháp sư Đạo Anh rồi biến mất, mới hay đó là hai con quỷ.

Theo như pháp sư Đạo Anh nói, hai con quỷ đó là sứ giả mà Tần Trang Tương Vương phái đến, bởi vì Tần Vương đọa vào đường ngạ quỷ chịu đói khát đã lâu, nên mới thỉnh cầu bố thí thức ăn, hơn nữa còn có hơn 300 người đi theo, cùng đến để cầu thức ăn.

Pháp sư Đạo Anh đáp ứng yêu cầu của Tần Vương, cứ cách một ngày lại chuẩn bị thức ăn để bố thí, Tần Vương quả nhiên mang theo một nhóm người hầu, cùng nhau đến ăn, cũng nói với pháp sư Đạo Anh: “Đệ tử sinh thời tội ác quá nhiều, đọa vào đường ác quỷ, đã 80 năm chưa được ăn uống gì”. Hơn nữa còn chỉ vào một quỷ đói đang ngồi và nói: “Đây là Bạch Khởi, kia là Vương Tiễn, đều là bởi vì khi còn sống giết người quá nhiều, cùng bị đọa vào đường ngạ quỷ chịu khổ”.

Trong “Di kiên chí” cũng có ghi chép như vậy: Một gia đình họ Trần ở Giang Nam có một cô con gái được 17 tuổi, từ trước đến giờ không có đi học, thân mắc trọng bệnh sắp chết. Đột nhiên nói với mọi người: “Con là tướng quân Bạch Khởi của nước Tần, năm đó khi còn sống đã giết bảy tám trăm ngàn người, ở địa ngục chịu tội, gần đây mới được phép đầu thai chuyển thế làm người, nhưng mỗi lần đầu thai đều chỉ có thể làm con gái, hơn nữa thọ mệnh đều không quá 20 tuổi, nay con chết thì cũng do là mệnh của con như thế rồi”. Nói xong liền qua đời.

Sách “Quần đàm thái dư” của Nghê Oản thời nhà Minh có chép: “Đền Tam Mao ở Ngô Sơn có lần bi sét đánh, đánh chết một con rết trắng, con rết này dài 1 thước (1/3 mét) trên lưng có 2 chữ “Bạch Khởi”. Trong “Cảm ứng hối biên” có chép: “Nguyên Quân, bạn của Phan Tòng Tiên, nhìn thấy đồ tể giết một con lợn, trên da lợn có 3 chữ Tần Bạch Khởi”.

2. Trương Lương, khai quốc công thần nhà Hán

Trương Lương, tự Tử Phòng, được phong làm Lưu Hầu, thụy hiệu Văn Thành. Sau khi nước Hàn bị nhà Tần tiêu diệt, từng ám sát Tần Thủy Hoàng thất bại, sau trở thành mưu thần của Hán Cao Tổ Lưu Bang, là một trong những khai quốc công thần của nhà Hán, ông cùng với Tiêu Hà và Hán Tín được xưng là Hán Sơ Tam Kiệt

Vào năm Hán Cao Tổ thứ 4 (năm 203 TCN), nhà Hán dần hình thành thế bao vây với nước Sở: Hàn Tín dựa vào đất Tề không ngừng tập kích quân Sở, Bành Việt lại nhiều lần từ đất Lương xuất binh, ngăn chặn con đường vận lương của quân sở. Quân Sở bị cạn kiệt lương thực, Hạng Vũ không biết làm sao, cuối cùng đành thả cha, vợ và con của Lưu Bang về, cùng Lưu Bang giảng hòa. Hai bên thỏa thuận, lấy cái hào rộng làm ranh giới, phân chia thiên hạ, Đông quy về Sở, Tây quy về Hán, lập giao ước giải giáp về nước, các bên không xâm phạm lẫn nhau.

Hạng Vũ đúng hẹn nhổ trại đi về Đông, hướng Bành Thành mà đi. Lưu Bang cũng muốn dẫn quân đi về hướng Tây đến Hán Trung. Lúc này Trương Lương nhìn thấu tình trạng của Hạng Vũ, bị bao vây tứ phía, vô cùng khó khăn, liền cùng với Trần Bình khuyên Lưu Bang: “Nhà Hán hiện nay đã chiếm 2/3 thiên hạ, đây chính là thời cơ có lợi để diệt Sở, truy đuổi giặc cùng đường, sự nghiệp hoàn tất cũng ở lần hành động này. Nếu để cho Sở đi về Đông, thì cũng như là thả hổ về rừng, tất sẽ có hậu họa khôn lường”. Lưu Bang tiếp nhận ý kiến của Trương Lương, tự mình dẫn đại quân truy kích Hạng Vũ, cũng lệnh cho Hàn Tín, Bành Việt bao vây Hạng Vũ.

Quân Hán lần lượt tập trung tại Cai Hạ (nay là bờ Bắc sông Đà, huyện Linh Bích, An Huy). Hàn Tín trước tiên dùng kế “thập diện mai phục” để vây Hạng Vũ ở Cai Hạ, tiếp theo lại dùng kế “bốn bề thọ địch” để làm tan rã sĩ khí quân địch, cuối cùng đánh bại Hạng Vũ, Hạng Vũ đành phải tự tử. Cho đến lúc đó, trận chiến Hán Sở kéo dài 4 năm đã kết thúc với chiến thắng trọn vẹn cho Lưu Bang. Mà Trương Lương hiến kế truy sát Hạng Vũ, cùng với việc giết binh sĩ đầu hàng có khác gì nhau?

Con trai trưởng Trương Bất Nghi của Trương Lương được phong làm Lưu Hầu đời thứ hai vào năm 185 trước công nguyên. Năm Hán Văn Đế thứ 5 (năm 175 trước công nguyên), Lưu Hầu Trương Bất Nghi tham gia mưu sát cựu quý tộc của nước Sở, phạm tội bất kính, bị phán tử hình, tước đoạt quốc tước Lưu hầu. Về sau dốc hết gia sản chuộc mạng làm một lính cánh bảo vệ thành, gia tộc Lưu hầu từ đó biến mất. Đây chính là báo ứng!

3. Lý Quảng giết quân đầu hàng mà gặp họa

Nhà thơ Vương Xương Linh vào thời nhà Đường có bài thơ “Xuất tắc”: “Tần thời minh nguyệt hán thời quan, vạn lý trường chinh nhân vị hoàn. Đãn sử long thành phi tướng tại, bất giáo hồ mã độ âm sơn” (Bản dịch thơ của Châu Giang: Trăng Tần, ải Hán vẫn đây mà, Nghìn dặm chinh phu chửa về nhà. Phi tướng nếu giờ còn ở lại, m Sơn đâu có ngựa Hồ qua!”. “Long thành phi tướng” trong bài thơ này là chỉ Lý Quảng. Lý Quảng là võ tướng thời nhà Hán, giỏi bắn tên, rất có tài năng, cùng Hung Nô đánh trận hơn 70 lần, mỗi lần đều giành được thắng lợi lớn, cho nên Hung Nô đều rất sợ ông, không dám xâm phạm. Một thời võ công hiển hách, có danh hiệu là Phi tướng quân (viên tướng bay).

Những danh thần danh tướng trong lịch sử đều chỉ vì một việc này mà gây họa cho con cháu
Tượng Lý Quảng

Lý Quảng từng đi theo hoàng đế xuất hành, thường xông pha chiến đấu, chống lại quân địch, cùng với việc đánh chết mãnh thú. Thời Hán Văn Đế, bởi vì thảo phạt Hung Nô có công, được phong làm Tán kỵ thường thị; thời Vũ Đế, làm thái thú Bắc Bình. Nhưng thuộc hạ của Lý Quảng, trước sau được phong hầu rất nhiều, địa vị còn cao hơn Lý Quảng, vậy mà Lý Quảng không được phong tước hay ban đất, chức quan cũng không quá Cửu khanh.

Một hôm, Lý Quảng âm thầm thỉnh giáo Vương Sóc, một người giỏi xem tướng và nói: “Từ khi triều Hán tấn công Hung Nô đến nay, tôi không có lần nào không tham gia. Tuy nhiên các sĩ quan từ Giáo úy trở xuống, tài năng còn không bằng người bậc trung, vậy mà nhờ tấn công Hung Nô có công, được phong hầu có mấy chục người. Lý Quảng tôi không có kém so với người khác, vậy mà lại không được phong đất, việc này nguyên nhân là do đâu? Chẳng lẽ cốt tướng của tôi là không được phong hầu hay sao? Hay vốn mệnh của tôi đã là như thế?”

Vương Sóc nói: “Tướng quân tự mình suy nghĩ một chút, có làm chuyện gì có lỗi với lương tâm không?” Lý Quảng nói: “Tôi từng làm Thái thú Lũng Tây, người Khương có một lần làm phản, tôi dụ hàng hơn 800 người khương, sau đó giết hết bọn họ, đến nay còn cảm thấy có lỗi với lương tâm, đó là chuyện khiến tôi vô cùng hối hận”. Vương Sóc nói: “Họa lớn là do giết người đã đầu hàng, bởi vì tướng quân ác độc giết người đã đầu hàng, cho nên không thể được phong hầu”. Sau đó Lý Quảng hành quân bị lạc đường, tự tử mà chết. Cháu của Lý Quảng là Lý Lăng, bởi vì đầu hàng Hung Nô, mẹ và vợ của anh cũng bị giết.

4. Tiền Duy Thành tàn sát, gây họa cho con cháu

Tiền Duy Thành (1720 – 1722), người Vũ Tiến, Giang Nam (nay là Thường Châu, Giang Tô). Năm Càn Long thứ 10 (năm 1745) đỗ trạng nguyên, làm quan đến Hình bộ thị lang, được vào Nam thư phòng.

Thường Châu có rất nhiều gia tộc hiển hách, như gia tộc Lã Cung (tướng quốc), gia tộc Dương Đình Ích (trạng nguyên), gia tộc Triệu Cung Nghị, Phan Tư Củ (tuần phủ) v.v. con cháu của họ đều nhiều lần đỗ đạt, nhân tài rất nhiều, nhà dòng dõi Nho học. Chỉ có Tiền Duy Thành là đời sau suy bại, đến nay đã không còn người nối dõi.

Tương truyền, trong trận chiến thảo phạt người Miêu, Tiền Duy Thành đảm nhiệm chức Tư khấu (Hình bộ thượng thư), tham gia giúp đỡ việc quân. Sau khi người đứng đầu của cuộc nổi dậy của người Miêu bị bắt và giết, chủ soái muốn xử tử hết những thanh niên khỏe mạnh của người Miêu, chỉ chừa lại con nít, mới xin ý kiến của Tiền Duy Thành. Tiền Duy Thành nói dứt khoát: “Nghiệt chủng khó lưu!” Vì vậy trai gái già trẻ đều bị giết hết, động người Miêu đó vậy là tuyệt hậu. Sau khi quân đội chiến thắng trở về không lâu thì Tiền Duy Thành qua đời, con trai của ông cũng chết theo. Lưu lại cháu trai, rất nhiều người bị tàn tật. Hương hỏa Tiền gia đến đây là chấm hết.

Những danh thần danh tướng trong lịch sử đều chỉ vì một việc này mà gây họa cho con cháu
Ảnh: Một phần của bức khắc đồng thời nhà Thanh “Nơi chiến thắng biên giới Miêu – Soundofhope

5. Lâm Bưu, tướng lĩnh ĐCSTQ vây Trường Xuân

Trong lịch sử hiện đại của Trung Quốc, ví dụ về thiện ác quả báo cũng không ít, chỉ là dưới sự tẩy não của vô thần luận, mọi người cũng rất ít nghĩ tới phương diện này.

Lâm Bưu, một trong mười nguyên soái của ĐCSTQ, trong chiến dịch Trường Xuân năm 1948, Lâm Bưu triệu tập người phụ trách ở cục Đông Bắc và quân khu Đông Bắc để họp bàn, quyết định áp dụng phương pháp vây khốn đối với Trường Xuân, đồng thời hạ lệnh: “Phải biến Trường Xuân thành tử thành (thành chết)!” Với ý đồ chặn đường lương thực để làm tan rã sĩ khí quân dân Trường Xuân. Kết quả, khiến mấy trăm ngàn người chết đói, bị bệnh chết, thây phơi đầy đường,

Theo thống kê sau này của ĐCSTQ: Số người chết đói và bệnh tật ở Trường Xuân lên đến 120.000 người. Theo báo cáo của “Trung ương nhật báo” vào ngày 24/10/1948, bên ngoài thành “không dưới 150.000 bộ hài cốt”. Đoàn Khắc Văn, một cựu sĩ quan quân đội quốc gia đang ở trong thành phố vào thời điểm đó, người được ĐCSTQ thả vào năm 1975, đã viết lại trong hồi ký của mình rằng, ước tính có khoảng 650.000 người chết đói.

Lâm Bưu về già mắc phải bệnh lạ, sợ lạnh, sợ nóng, nhức đầu, đau thắt lưng, mất ngủ, hành hạ cả ngày lẫn đêm. Về sau thì không thấy được ánh sáng, sợ nước, sợ gió. Đi bệnh viện kiểm tra, cũng tìm không ra được bệnh gì, có lẽ là vong linh ở âm phủ đến đòi mạng.

Cuối cùng, trong thời kỳ “Đại cách mạng văn hóa”, vào ngày 13/9/1971, Lâm Bưu ngồi trên phi cơ cùng vợ Diệp Quần và con trai Lâm Lập Quả bỏ trốn thì máy bay bị rơi tại Mông Cổ, toàn bộ người trên máy bay đều tử vong. Ứng nghiệm với võ tướng giết người vô tội, cuối cùng phải nhận quả báo và trừng phạt.

Giết người đầu hàng và tàn sát người vô tội đều phải nhận kết cục cay đắng. Nhìn vào những danh thần, danh tướng trong lịch sử, kết cục của họ chẳng phải là quá bi thảm hay sao?

Tiểu Phàm biên dịch
Theo: Tịnh Âm – Soundofhope

Tài liệu tham khảo:
(Tây Hán) Tư Mã Thiên: “Sử Ký” quyển 73
(Tây Hán) Tư Mã Thiên: “Sử Ký” quyển 109
(Thanh) Uông Đạo Đỉnh: “Tọa hoa chí quả”

Xem thêm

[ad_2]