Ảnh: Soundofhope

Theo truyền thuyết, người để lại nhiều xá lợi nhất trong Phật giáo là Phật Thích Ca. Sau khi Đức Phật Thích Ca viên tịch cách đây 2.500 năm. Các đệ tử của ông đã thu được một xương đỉnh đầu, hai xương bả vai, bốn răng, một di vật xương ngón giữa và 84.000 viên ngọc xá lợi thật trong quá trình hỏa táng thi hài của Ngài.

84.000 viên xá lợi hình hạt này có nhiều màu sắc và nhiều màu sắc khác nhau, và có cảm giác trong suốt. Vì vậy đức Phật Thích Ca đã để lại xá lợi, được tín đồ coi là lễ vật của đức Phật, coi như vật linh thiêng, người Phật tử khi nhìn thấy xá lợi cũng giống như nhìn thấy chư Phật, chư Bồ tát, họ đảnh lễ và thành tâm cúng dường.

Ngày nay, ngày càng có nhiều tranh cãi về cách thức hình thành khu di tích. Dường như người ta ngày càng muốn khám phá xem di vật được tạo ra như thế nào, mà quên mất rằng nếu là di vật do người thường để lại thì liệu có bao nhiêu người tôn thờ và kính trọng? Xá lợi của Đức Phật Thích Ca được tôn kính và thờ phụng vì đức tính cao quý của Ngài trong suốt cuộc đời của Ngài.

Phẩm cách cao quý là dấu hiệu quan trọng nhất để đánh giá một con người. Di tích được hình thành như thế nào không thực sự quan trọng, giờ nó mang ý nghĩa biểu tượng nhiều hơn.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người sáng lập ra Phật giáo, đã nhân từ suốt cuộc đời, theo truyền thuyết, khi còn nhỏ, ông đã tham dự lễ hội nông nghiệp với cha mình, ông thấy đất bị người nông dân xới tung, côn trùng bị xẻng chặt bỏ, và những con chim tranh giành thức ăn.

Lúc đó Ngài đã khá giác ngộ. Tất cả chúng sinh đều ăn thịt lẫn nhau và cảm nhận được sự đau khổ của thế giới này. Cảm giác sâu sắc này không hề biến mất cho đến khi Ngài kết hôn và có con, ngày càng suy nghĩ về điều đó nhiều hơn.

Vì vậy, Thích Ca Mâu Ni rời đi vào một đêm, đi bộ đến bờ sông Anama, cạo tóc và bỏ phục trang. Ngài quyết tâm đi tu, và nhận ra nỗi đau cả đời của kiếp nhân sinh đã khiến Ngài thường xuyên suy nghĩ.
Lần đầu tiên ông học thiền, nhưng ông không hài lòng và muốn đạt đến một trạng thái sâu hơn, vì vậy ông đã bỏ nó. Vào thời điểm đó, nhiều người có quan niệm: “Chỉ có tu khổ hạnh mới giải thoát được”, để đạt được sự giải phóng nội tâm bằng cách tự hành hạ cơ thể của chính mình, và một số người thậm chí đã chết vì nó.

Nhưng ông nghĩ rằng chủ nghĩa khổ hạnh mù quáng là vô nghĩa, Ông nhớ tất cả những gì bản thân cảm thấy khi thiền định dưới gốc cây ngày còn nhỏ. Nghĩ rằng điều này có thể hữu ích, vì vậy, anh đã tắm và ngồi thiền ở sông Ni Niên. Sau đó, Ngài giác ngộ và trở thành một “vị Phật” ở thành phố Gaya, cách nơi tu hành khổ hạnh của mình không xa.

Khi tu khổ hạnh, cái khó nhất là “quỷ”.Nhưng Thích Ca Mâu Ni cứ nhẫn nhịn lòng mình, đoạn dứt sắc dục, đoạn dứt khoái cảm, đoạn dứt đói khát, đoạn dứt tham lam, đoạn dứt lười biếng, đoạn dứt sợ hãi, và không ngừng chinh phục những ham muốn nội tâm.

Trước khi Thích Ca nhập niết bàn, để có thể tiếp tục hoằng pháp cho các đệ tử và chịu đựng đau đớn về thể xác, khi đi ngang qua một ngôi làng, để khỏi đau khổ cho mọi người, Ngài đã ăn một mình một loại thức ăn có tên là “chiên đàn nhĩ”, là một loại nấm độc hại, theo kinh Phật, lúc bấy giờ Đức Phật Thích Ca “ toàn chịu thống khổ”. Nhưng ngài nhất quyết phải hoàn thành lời dạy của mình cho các đệ tử và số mệnh của mình trước khi nhập niết bàn.

Đức Phật Thích Ca cả đời không cố chấp vào quan điểm của mình, Ngài thường nói với các đệ tử của mình rằng hãy tiếp tục tinh tấn tu hành và tiếp tục nỗ lực để hiểu được chân nghĩa của thế giới. Nếu không có sự chăm chỉ tu luyện, tấm lòng từ bi, thì những xá lợi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni để lại sẽ không được thế gian tôn kính như vậy.

Phật giáo chú ý đến sự hợp nhất giữa con người và đức Phật, trên thực tế lại chú ý đến tu luyện nội tâm, điều này quan trọng hơn nhiều so với xá lợi và bản thân xá lợi. Trong xã hội hiện đại đầy biến động này, không ngừng hoàn thiện nội tâm và duy trì trái tim nhân hậu, lạc quan có lẽ là lời dạy quý giá nhất mà Đức Phật để lại cho thế gian.

Từ Thanh biên dịch
Theo: Lý Tĩnh Nhu – Soundofhope

Xem thêm



Dự án xem nhiều:

Có thể bạn sẽ quan tâm: