Ảnh: Soundofhope

Ai cũng cho cái đẹp là đẹp, do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái xấu; ai cũng cho điều thiện là thiện, do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái ác. Là vì “có” và “không” sinh lẫn nhau; dễ và khó tạo nên lẫn nhau; ngắn và dài làm rõ lẫn nhau; cao và thấp dựa vào nhau; âm và thanh hòa lẫn nhau; trước và sau theo nhau.

Mười danh ngôn kinh điển của Lão Tử

1. Đạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh. Vô danh thiên địa chi thủy; hữu danh vạn vật chi mẫu.

Nghĩa là: Đạo mà có thể thuyết nói rõ ràng minh bạch ra hết thì không phải là Đạo thường hằng bất biến. Cái danh, cái tên mà có thể đặt tên gọi tên ra thì không phải là cái tên thường hằng bất biến. Không danh xưng (vô danh) là khởi đầu của trời đất, có danh xưng (hữu danh) là mẹ của vạn vật.

2. Thiên hạ giai tri mĩ chi vi mĩ, tư ác dĩ; giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ. Cố hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hoà, tiền hậu tương tuỳ.

Nghĩa là: Ai cũng cho cái đẹp là đẹp, do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái xấu; ai cũng cho điều thiện là thiện, do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái ác. Là vì “có” và “không” sinh lẫn nhau; dễ và khó tạo nên lẫn nhau; ngắn và dài làm rõ lẫn nhau; cao và thấp dựa vào nhau; âm và thanh hòa lẫn nhau; trước và sau theo nhau.

3. Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.

Nghĩa là: Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên

4. Họa hề phúc chi sở ỷ, phúc hề họa chi sở phục.

Nghĩa là: Họa là nơi phúc tựa, phúc là nơi họa nấp.

5. Thiên hạ nan sự tất tác ư dị. Thiên hạ đại sự tất tác ư tế

Nghĩa là: Các việc khó khăn trong thiên hạ, đều do từ việc dễ mà thành. Các việc lớn trong thiên hạ, đều từ việc nhỏ mà nên.

6. Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư Đạo.

Nghĩa là: Nước là thiện nhất, Nước khéo làm ích cho muôn loài mà không tranh giành, ở chỗ mọi người đều ghét, cho nên gần Đạo.

7. Đạo sinh nhất, Nhất sinh nhị, Nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ m nhi bão Dương, xung khí dĩ vi hòa.

Nghĩa là: Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Trong vạn vật không có vật nào không cõng m và ôm Dương. Ở giữa là nguyên khí dung hòa.

8. Họa mạc đại ư bất tri túc.[1] Cữu mạc đại ư dục đắc. Cố tri túc chi túc, thường túc hĩ.

Nghĩa là: Không họa nào lớn bằng không biết đủ. Không hại nào lớn bằng muốn được của. Cho nên biết cho mình là có đủ, thời luôn luôn đủ.

9. Tri nhân giả trí, tự tri giả minh. Thắng nhân giả hữu lực, tự thắng giả cường.

Nghĩa là: Biết người là khôn. Biết mình là sáng. Thắng người là kẻ có sức; tự thắng là kẻ mạnh.

10. Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên

Nghĩa là: Trị nước lớn như nấu cá nhỏ.

Mười danh ngôn kinh điển của Khổng Tử

1. Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ

Nghĩa là: Có bạn từ phương xa đế thăm, chẳng phải là điều vui mừng hay sao?

2. Tứ hải chi nội giai huynh đệ dã.

Nghĩa là: Trong bốn biển đều là anh em.

3. Kỷ sở bất dục, vật thi vu nhân.

Nghĩa là: Điều gì mình không muốn thì cũng đừng làm cho người khác.

4. Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân.

Nghĩa là: Những gì mình muốn lập thì cũng nên lập cho người khác, những gì mình muốn đạt thì cũng nên cho người khác đạt được.

5. Đức bất cô, tất hữu lân.

Nghĩa là: Người có đức thì không lẻ loi, tất có bạn cũng trọng đạo đức như mình.

6. Lễ chi dụng, hòa vi quý.

Nghĩa là: Sử dụng lễ nghĩa thì hòa là quý

7. Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên, trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi.

Nghĩa là: Ba người cùng đi, tất có người làm thầy ta, chọn cái tốt của họ mà học theo, cái chưa tốt của họ để sửa bản thân.

8. Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu.

Nghĩa là: Người không biết lo xa tất sẽ có buồn gần.

9. Tri giả bất hoặc, nhân giả bất ưu, dũng giả bất cụ.

Nghĩa là: Có kiến thức thì không nghi ngờ, có lòng nhân thì không ưu tư, có dũng cảm thì không sợ hãi.

10. Tam quân khả đoạt soái dã, thất phu bất khả đoạt chí dã.

Nghĩa là: Với ba quân, có thể đoạt chủ soái của họ; Với trai nam nhi, không thể đoạt chí của anh ta được.

Mười danh ngôn kinh điển của Lý Bạch

1. Tả cảnh thê lương rộng lớn nhất: Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đáo hải bất phục hồi.

Nghĩa là: Nước sông Hoàng từ trời tuôn xuống, chảy nhanh ra biển, chẳng quay về,

2. Câu thơ tự tin nhất: Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng, thiên kim tán tẫn hoàn phục lai.

Nghĩa là: Trời sinh thân ta tất hữu dụng, Nghìn vàng tiêu hết rồi lại đến.

3. Câu thơ cuồng ngạo nhất: Ngưỡng thiên đại tiếu xuất môn khứ, ngã bối khởi thị bồng hao nhân.

Nghĩa là: Nhìn trời, ngẩng mặt mà cười lớn, đời ta chẳng phải kiếp phiêu bồng.

4. Câu thơ bất đắc dĩ nhất: Đại đạo nhập thanh thiên, ngã độc bất phục xuất.

Nghĩa là: Đường lớn lên tận mây xanh, mà sao chỉ một mình ta không có đường ra.

5. Câu thơ được yêu thích nhất: Trừu đao đoạn thủy thủy canh lưu, cử bôi tiêu sầu sầu canh sầu.

Nghĩa là: Rút đao chém nước, nước càng chảy, nâng chén tiêu sầu, sầu càng sầu.

6. Câu thơ trở thành câu thành ngữ kinh điển: Nhất phu đương quan, vạn phu mạc khai.

Nghĩa là: Một người giữ ải, muôn người khó qua.

7. Miêu tả cảnh vật tinh tế nhất: Vân thanh thanh hề dục vũ, thủy đạm đạm hề sinh yên.

Nghĩa là: Mây xanh xanh chừng sắp mưa, Nước mờ mờ như bốc khói.

8. Câu thơ kinh tâm động phách: Phi lưu trực hạ tam thiên xích, nghi thị ngân hà lạc cửu thiên.

Nghĩa là: Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước, Tưởng dải Ngân Hà tuột khỏi mây.

9. Câu thơ khiến người cảm động: Lệnh nhân tàm phiêu mẫu, tam tạ bất năng xan.

Nghĩa là: Khiến người xấu hổ với Phiêu mẫu, ba lần cảm tạ vẫn khó ăn.

10. Câu thơ quen thuộc nhất: Sàng tiền minh nguyệt quang, nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, đê đầu tư cố hương.

Nghĩa là: Đầu giường ánh trăng rọi, Mặt đất như phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương.

Mười danh ngôn kinh điển của Đỗ Phủ

1. Hội đương lăng tuyệt đính, nhất lãm chúng sơn tiểu.

Nghĩa là: Ðược dịp lên tận đỉnh cao chót vót, ngắm nhìn mới thấy núi non chung quanh đều nhỏ bé

2. Độc thư phá vạn quyển, hạ bút như hữu thần.

Nghĩa là: Đọc sách phá vạn quyển, hạ bút như có thần.

3. Chu môn cửu nhục xú, lộ hữu đống tử cốt.

Nghĩa là: Nơi cửa son rượu thịt ê hề, Ngoài đường cái có xương người chết rét.

4. Vương, Dương, Lư, Lạc đương thì thể, Khinh bạc vi văn sái vị hưu. Nhĩ tào thân dữ danh câu diệt, Bất phế giang hà vạn cổ lưu.

Nghĩa là: Các bài văn của Vương, Dương, Lư, Lạc là những người đương thời, Các ngươi cũng còn coi thường. Các ngươi, thân với danh đều tiêu tán, Trái lại các vị trên sẽ còn mãi với non sông đất nước.

5. Xuất sư vị tiệp thân tiên tử, trường sử anh hùng lệ mãn cân.

Nghĩa là: Ra quân chưa thắng thân đà thác, Mãi khiến anh hùng lệ xót xa.

6. An đắc quảng hạ thiên vạn gian, đại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan, phong vũ bất động an như sơn.

Nghĩa là: Ước có ngôi nhà rộng vạn gian. Che khắp trong đời hàn sĩ thảy hân hoan! Gió mưa chẳng chuyển vững non ngàn

7. Đan thanh bất chi lão tương chí, Phú quý ư ngã như phù vân.

Nghĩa là: Mê hội hoạ quên già sắp đến. Giàu sang danh vọng tựa phù vân.

8. Vãn cung đương vãn cường, dụng tiễn đương dụng trường. Xạ nhân tiên xạ mã, cầm tặc tiên cầm vương.

Nghĩa là: Giương cung phải cung cứng, Dùng tên phải tên dài. Bắn người, bắn ngựa trước, Bắt giặc, bắt chúa ngay.

9. Văn chương thiên cổ sự, đắc thất thốn tâm tri.

Nghĩa là: Chuyện văn chương ngàn xưa đã có. Hay dở tuỳ theo tấc lòng mình.

10. Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liễu, nhất hành bạch lộ thượng thanh thiên.

Nghĩa là: Liễu biếc, oanh vàng từng cặp hót. Trời xanh, cò trắng mấy hàng bay.

Mười danh ngôn kinh điển của Tô Thức

1. Trúc ngoại đào hoa tam lưỡng chi, xuân giang thủy noãn áp tiên tri.

Nghĩa là: Bên ngoài bụi trúc, hoa đào nở hai ba cành. Sông sang xuân, nước ấm lên, con vịt là biết trước tiên.

2. Dục bả tây hồ tỉ tây tử, đạm trang nùng mạt tổng tương nghi.

Nghĩa là: Tây Hồ đâu khác nàng Tây Tử. Trang điểm đậm nhạt, nét vẫn tình.

3. Đại giang đông khứ, lãng đào tẫn, thiên cổ phong lưu nhân vật.

Nghĩa là: Sông dài băng chảy về đông. Sóng trào cuốn hết anh hùng xưa nay

4. Hoành khán thành lĩnh trắc thành phong, viễn cận cao đê các bất đồng, bất thức lư sơn chân diện mục, chích duyên thân tại thử sơn trung.

Nghĩa là: Nhìn ngang thành dãy, nghiêng thành đỉnh. Cao, thấp, gần, xa, thấy khác ngay. Chẳng rõ Lư Sơn hình dáng thật. Bởi thân đứng ở núi non này.

5. Minh nguyệt kỷ thời hữu, bả tửu vấn thanh thiên.

Nghĩa là: Trăng sáng có từ bao giờ. Cầm chén rượu hỏi trời xanh.

6. Đãn nguyện nhân trường cửu, thiên lý cộng thiền quyên.

Nghĩa là: Chỉ nguyện người trường cửu. Thuyền quyên muôn dặm bên nhau

7. Cựu thư bất yếm bách hồi độc, thục độc thâm tư tử tự tri.

Nghĩa là: Sách cũ trăm lần xem chẳng chán; đọc kỹ, nghĩ sâu ắt tự biết

8. Nhất điểm hạo nhiên khí, thiên lý khoái tai phong.

Nghĩa là: Khí hạo nhiên mỗi lần giận giữ. Ngàn dặm reo gió bão Khoái Tai đình.

9. Chi thượng liễu miên xuy hựu thiểu, thiên nhai hà xử vô phương thảo.

Nghĩa là: Tơ liễu trên cành bay lỗ chỗ. Ven trời trông hút xanh liền cỏ.

10. Tiếu tiệm bất văn thanh tiệm tiễu, đa tình khước bị vô tình não.

Nghĩa là: Tiếng cười bỗng bặt nghe không rõ. Vô tình khiến khách đa tình khổ.

Mười danh ngôn kinh điển của Vương An Thạch

1. Bất úy phù vân già vọng nhãn, chích duyên thân tại tối cao tằng

Nghĩa là: Không sợ mây trôi che tầm mắt, chỉ vì thân ở cao tầng nhất.

2. Xuân phong hựu lục giang nam ngạn, minh nguyệt hà thì chiếu ngã hoàn.

Nghĩa là: Gió xuân lại thổi xanh bờ Giang Nam. Khi nào trăng lên soi cho ta về.

3. Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhật, tổng bả tân đào hoán cựu phù.

Nghĩa là: Muôn ngõ vạn nhà đều sáng sủa. Thẻ đào thay mới, đón bình an.

4. Khán tự tầm thường tối kỳ quật, thành như dung dịch khước gian tân.

Nghĩa là: Nhìn thấy tầm thường, kiệt xuất nhất. Trông như là dễ, lại gian nan.

5. Dao tri bất thị tuyết, vi hữu ám hương lai.

Nghĩa là: Đã biết từ xa, “Không phải tuyết!” Vì nghe nơi ấy thoảng hương bay.

6. Nhất thủy hộ điền tương lục nhiễu, lưỡng sơn bài thát tống thanh lai.

Nghĩa là: Một dòng nước biếc ôm quanh ruộng. Hai núi màu xanh dịu hắt sang.

7. Vạn lục tùng trung hồng nhất điểm. Động nhân xuân sắc bất tu đa

Nghĩa là: Trong muôn trùng màu xanh nổi lên một bông hoa đỏ. Sắc xuân làm lay động lòng người đâu cần gì nhiều.

8. Tự cổ khu dân tại thành tín, nhất ngôn vi trọng bách kim khinh.

Nghĩa là: Tự xưa việc cai quản dân nằm ở sự thành tín, một lời làm trọng, trăm vàng nhẹ tênh.

9. Tế sổ lạc hoa nhân tọa cửu, hoãn tầm phương thảo đắc quy trì.

Nghĩa là: Hoa rụng nhiều nơi ngồi nán mãi. Mải lùng cỏ lạ chậm về làng

10. Xuân sắc não nhân miên bất đắc. Nguyệt di hoa ảnh thướng lan can.

Nghĩa là: Xuân sắc não lòng khôn thành giấc. Trăng đưa hoa ảnh tới lan can.

Mười danh ngôn kinh điển của Lục Du

1. Chỉ thượng đắc lai chung giác thiển, tuyệt tri thử sự yếu cung hành.

Nghĩa là: Những thứ học được từ trong sách vở chung quy vẫn là nông cạn, muốn hiểu được thì nhất định phải tự thân thực hành.

2. Vương sư bắc định trung nguyên nhật, gia tế vô vong cáo nãi ông.

Nghĩa là: Ngày mà quân vua phương bắc định được Trung Nguyên. Lúc nhà cúng đừng quên khấn với cha.

3. Sơn trùng thủy phúc nghi vô lộ, liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.

Nghĩa là: Trùng điệp núi sông ngờ hết lối. m u hoa liễu lại một thôn.

4. Dạ lan ngọa thính phong xuy vũ, thiết mã băng hà nhập mộng lai.

Nghĩa là: Đêm khuya xào xạc nghe mưa gió. Ngựa sắt băng sông mộng vấn vương.

5. Văn chương bản thiên thành, diệu thủ ngẫu đắc chi.

Nghĩa là: Văn chương vốn do trời thành tựu, xảo nghệ tự nhiên được.

6. Tiểu lâu nhất dạ thính xuân vũ, thâm hạng minh triêu mại hạnh hoa.

Nghĩa là: Mưa xuân gác nhỏ đêm nghe vẳng. Hoa hạnh hẻm cùng sáng bán ra.

7. Thiên cơ vân cẩm dụng tại ngã, tiễn tài diệu xử phi đao xích.

Nghĩa là: Khung cửi trời, mây gấm tay ta dùng. Chỗ hay của may cắt là không dùng dao thước

8. Tái thượng Trường Thành không tự hứa, Kính trung suy mấn dĩ tiên ban.

Nghĩa là: Trường thành trấn ải thường nuôi chí. Mái tóc soi gương sớm điểm màu.

9. Bình sinh thiết thạch tâm, vong gia tư báo quốc.

Nghĩa là: Bình sinh tâm sắt đá, quên nhà đền nợ nước.

10. Vị ti vị cảm vong ưu quốc, sự định do tu đãi hạp quan.

Nghĩa là: Thấp hèn dám nản lòng lo nước. Phải trái chờ khi đậy nắp quan.

Mười danh ngôn kinh điển của Lý Thanh Chiếu

1. Sinh đương tác nhân kiệt, tử diệc vi quỷ hùng.

Nghĩa là: Sống là người hào kiệt. Chết cũng ma anh hùng

2. Vật thị nhân phi sự sự hưu, dục ngữ lệ tiên lưu.

Nghĩa là: Vật đổi sao dời mọi việc thôi. Chưa nói lệ tuôn rồi.

3. Tầm tầm mịch mịch, lãnh lãnh thanh thanh, thê thê thảm thảm thích thích.

Nghĩa là: Lần lần, giở giở. Lạnh lạnh lùng lùng. Cảm cảm thương thương nhớ nhớ

4. Bất như tùy phân tôn tiền túy, mạc phụ đông ly cúc nhị hoàng

Nghĩa là: Chi bằng cứ thế say bình rượu, chớ phụ cúc vàng ở giậu đông.

5. Hoa tự phiêu linh thủy tự lưu, nhất chủng tương tư, lưỡng xử nhàn sầu.

Nghĩa là: Hoa rụng tơi bời nước chảy mau. Một mối tương tư. Hai chốn ưu sầu

6. Chích khủng song khê trách mãnh chu, tái bất động hứa đa sầu.

nghĩa là: Chỉ sợ những chiếc thuyền nhỏ nhẹ ở Song Khê. Chở không nổi quá nhiều nỗi buồn.

7. Thử tình vô kế khả tiêu trừ, tài hạ mi đầu, khước thượng tâm đầu.

Nghĩa là: Cảnh tình không chỗ để tiêu trừ. Vừa nhíu mày chau. Lại quặn lòng đau

8. Mạc đạo bất tiêu hồn, liêm quyển tây phong, nhân bỉ hoàng hoa sấu.

Nghĩa là: Chớ nói cảnh chẳng tiêu hồn, Rèm cuốn gió tây. Người so với hoa vàng còn mảnh mai hơn.

9. Tri phủ, tri phủ, ứng thị lục phì hồng sấu.

Nghĩa là: Biết chăng? Biết chăng? Đã đến tiết lá xanh trổ, hoa đỏ tàn héo rồi.

10. Tân lai sấu, phi kiền bệnh tửu, bất thị bi thu.

Nghĩa là: Người gầy rọp. Không vì bệnh rượu. Chẳng phải buồn thu

Mười danh ngôn kinh điển của Tào Tuyết Cần

1. Giả tác chân thời chân diệc giả, vô vi hữu xứ hữu hoàn vô.

Nghĩa là: Giả nghĩ thành chân, chân cũng giả. Trong không có có, có lại không

2. Ky quan toán tẫn thái thông minh, phản ngộ liễu khanh khanh tính mệnh.

Nghĩa là: Bày mưu tính kế quá thông minh, trái lại lại mưu tính đến tính mạng của người thân

3. Tâm bệnh chung tu tâm dược trì, giải linh hoàn thị hệ linh nhân.

Nghĩa là: Tâm bệnh cần có tâm dược trị, người tháo chuông hay là buộc chuông.

4. Vạn lưỡng hoàng kim dung dịch đắc, tri tâm nhất cá dã nan cầu.

Nghĩa là: Vàng bạc ngàn lượng còn dễ kiếm, tri kỷ một người thật khó tìm.

5. Kỳ tĩnh nhược hà? Hồng mai trán tuyết khai ích hồng mông, thùy vi tình chủng? Đô chích vi phong nguyệt tình nùng.

Nghĩa là: Tĩnh lặng sao? Mai đỏ nở trong tuyết khai mở thời hồng hoang, ai vì đa tình? Đều chỉ vì tình nồng gió trăng.

6. Thế sự động sát giai học vấn, nhân tình luyện đạt tức văn chương.

Nghĩa là: Thế sự nhìn rõ đều là học vấn, nhân tình từng trải chính là văn chương.

7. Mãn chỉ hoang đường ngôn, nhất bả tân toan lệ. Đô vân tác giả si, thùy giải kỳ trung vị.

Nghĩa là: Đầy giấy lời hoang đường, một dòng lệ chua cay. Đều nói tác giả ngốc, ai biết ý vị trong đó.

8. Cô tiêu ngạo thế giai thùy ẩn, nhất dạng hoa khai vi để trì.

Nghĩa là: Xa đời ngất ngưởng cùng ai đấy? Biếng nở lừ đừ khéo chậm sao?

9. Bách túc chi trùng, tử nhi bất cương.

Nghĩa là: Con rết trăm chân, chết mà không ngã

10. Thâu lai lê nhị tam phân bạch, tá đắc mai hoa nhất lũ hồn.

Nghĩa là: Lê đầy nhị trắng đành vay ngọt. Mai sẵn hồn thơm cứ mượn bừa.

Tiểu Phàm biên dịch
Theo: Aboluowang

 

Xem thêm



Dự án xem nhiều:

Có thể bạn sẽ quan tâm: